Tạp chí công nghệ Việt Nam

Các nhân tố tác động tới thời vụ trong du lịch

Tính thời vụ trong du lịch tồn tại bởi tác động của tập hợp nhiều nhân tố đa dạng (về bản chất và hướng ảnh hưởng). Đó là các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế – xã hội, nhân tố tổ chức, kỹ thuật, nhân tố tâm lý v.v…
Một số các nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu đến cung, một số đến cầu, một số khác đến cả hai bộ phận cấu thành của thị trường du lịch. Tính thời vụ trong du lịch đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc kinh doanh đạt hiệu quả của ngành du lịch. Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả trong kinh doanh du lịch cần nghiên cứu sâu và tỉ mỉ những nhân tố quyết định tính thời vụ trong du lịch, không chỉ trong phạm vi một đất nước mà cả ở những vùng riêng biệt với những điều kiện kinh doanh cụ thể. Nhiệm vụ đặt ra khi nghiên cứu là:
Chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng quyết định đến tính thời vụ.
Định ra hướng tác động của từng nhân tố lên cung, lén cầu hoặc lên cả cung và cầu trong du lịch.
Xác định mức độ tác động của từng nhân tố và ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố.
Sự nghiên cứu các nhân tố một cách khoa học (nghiên cứu các nhân tố một cách có hệ thống, không được đánh giá quá cao ảnh hưởng của một vài nhân tố, hoặc hạ thấp vai trò của một vài nhân tố khác) và toàn diện (nghiên cứu đầy đủ các nhân tố và quan

sát từng nhân tố ở mọi khía cạnh khác nhau), sẽ cho phép các cơ quan và các nhà quản lý du lịch định ra chính sách phát triển ngành, phát triển vùng và xí nghiệp du lịch một cách đúng đắn, nhằm giảm bớt tác động bất lợi của đa số các nhân tố và kết quả là kéo dài được thời vụ du lịch.
Tác động của các nhân tố có thể biểu hiện theo sơ đồ sau: Sơ đồ 5.1. Sự tác động của các nhân tố tới thời vụ du lịch

Một số các nhân tố tác động chủ yếu lên cung du lịch, một số khác tác động chủ yếu lên cầu du lịch. Có nhân tố lại tác động lên cả cung và cầu du lịch, và thông qua đó gây lên tính thời vụ trong kinh doanh du lịch.
5.3.1. Nhân tố mang tính tự nhiên:
Trong các nhân tố mang tính tự nhiên, khí hậu là nhân tố chủ yếu quyết định đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch. Thông thường, khí hậu tác động lên cả cung và cầu trong du lịch. Tuy nhiên, ở từng vùng khí hậu cụ thể thì mức độ tác động có khác nhau

(ví dụ ở vùng khí hậu hàn đới thì nhân tố này tác động lên cả cung và cầu du lịch, song ở vùng khí hậu nhiệt đới thì nhân tố này lại chỉ tác động chủ yếu lên cầu du lịch).
Ớ đây cần nhấn mạnh rằng, hướng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của nhân tố khí hậu là khác nhau đối với các loại hình kinh doanh du lịch khác nhau. Cụ thể:
Đối với các thể loại du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, du lịch thể thao núi:
Hướng ảnh hưởng: Khí hậu hoặc tài nguyên du lịch dẫn đến cầu du lịch.
Mức độ ảnh hưởng đối với các thể loại du lịch như du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi, du lịch thể thao núi mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu là rất lớn.
Đối với du lịch nghỉ biển các thành phần của khí hậu như cường độ ánh nắng, độ ẩm, độ mạnh và hướng của gió, nhiệt độ, cộng với một số đặc điểm khác của biển và bờ biển tài nguyên tự nhiên du lịch như: độ sâu của bờ biển, kích thước của bãi tắm v.v… quyết định mức độ tiện nghi phù hợp với việc tắm và phơi của khách từ đó dẫn đến việc xác định giới hạn của thời vụ du lịch. Tuy nhiên, giới hạn đó có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại tuỳ thuộc vào đòi hỏi của khách du lịch và tiêu chuẩn của họ khi sử dụng tài nguyên du lịch.
Thí clụ: Đối với khách du lịch Bắc Âu, nhiệt độ nước biển từ 15 – 16°c là phù hợp để tắm hoặc mùa du lịch có thể kéo dài hơn.
Đôi với các đối tượng khách du lịch khác thì nhiệt độ nước biển phải từ 20 – 25°c (hoặc cao hơn nữa) mới là phù hợp nên mùa du lịch bị co ngắn lại.
Cũng là kinh doanh du lịch nghỉ biển: ở khí hậu lạnh (ví dụ như các nước ở Châu Âu ) thì mùa du lịch ngắn hơn (6, 7, 8); nếu xét các điều kiện khác là như nhau thì ở khí hậu nóng (châu Phi) hoặc mùa du lịch có thể là quanh năm.

• >>>>>Xem thêm:TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH

Hoặc ở đây khí hậu có tính quyết đinh độ dài của thòi vụ du lịch
Đối với các thể loại du lịch khác (du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa, du lịch công vụ..
Khí hậu khỏng có ảnh hưởng trực tiếp lên tài nguyên du lịch (chất lượng nước khoáng không thay đổi trong cả năm, chất lượng của tài nguyên nhân văn như tượng, viện bảo tàng v.v… cũng không thay đổi trong suốt năm). Khí hậu lại có ảnh hưởng trực tiếp lên cầu du lịch (mặc dù ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không khắt khe như đối với du lịch nghỉ biển). Khách du lịch của các thể loại du lịch này thường chọn khi thời tiết thuận lợi (vào mùa xuân, mùa thu, hay mùa khô) để thực hiện các cuộc hành trình du lịch. Do đó, biểu hiện cường độ khách tập trung chủ yếu vào một số thời gian trong năm.
Hoặc nhân tố khí hậu đóng vai trò chính, hạn chế sự cán bằng của các cuộc hành trình du lịch và việc sử dụng các tài nguyên du lịch theo thời gian.
5.3.2. Nhân tố mang tính kinh tế – xã hội.
Nhân tố về sự phân bổ quỹ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân cư:
Sự phân bổ không đồng đều quỹ nhàn rỗi của các nhóm dân cư gây ảnh hưởng đến sự phân bổ không đồng đều của nhu cầu du lịch. Như chúng ta đã phân tích ở chương trước, một trong những điều kiện cần thiết quan trọng để con người có thể đi du lịch là phải
có thời gian rỗi. Khi xét tác động của thời gian rỗi lên tính thời vụ trong kinh doanh du lịch phải xét từ hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là thời gian nghỉ phép năm có thể tác động lên thời vụ du lịch, do độ dài của thời gian nghỉ phép và thời gian sử dụng phép trong năm. Thực tế cho thấy ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép của năm ngắn thì người dân thường chỉ có thể đi du lịch một lần trong nãm. Khi đó họ có xu hướng chọn thời gian chính vụ để đi nghỉ, với mong muốn tận hưởng được những cái tốt nhất cho những ngày nghỉ phép quý giá. Do vậy, sự tập trung của cầu du lịch sẽ thường cao vào thời vụ du lịch chính. Tuy nhiên, theo xu hướng ngày nay thì số ngày nghỉ phép năm của người dân tại nhiều nước trên thế giới ngày càng tăng lên. Nếu số ngày nghỉ phép năm được kéo dài sẽ cho phép con người có thể đi du lịch nhiều lần hơn trong năm và từ đó thì tỷ trọng tương đối của nhu cầu du lịch tập trung vào thời vụ chính sẽ giảm trong tổng số nhu cầu cả năm. Như vậy, sự gia tãng thời gian nhàn rỗi góp phần làm giảm cường độ của thời vụ du lịch và tãng cường độ tập trung nhu cầu vào ngoài thời vụ du lịch truyền thống. ‘
Việc phân bố thời gian sử dụng phép năm của các công nhân viên chức cũng ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch. Ví dụ ở một sô nước áp dụng chính sách quy định thời gian sử dụng phép cho nhân viên trong một khoảng thời gian nhất định của năm. Điều đó cũng góp phần tập trung nhu cầu vào một thời gian nhất định, tác động gây lên tính thời vụ trong nhu cầu du lịch. Tuy nhiên trên thực tế thì ảnh hưởng đó không nhiều vì rất ít quốc gia quy định thời điểm bắt buộc phải sử dụng để nghỉ phép năm.
Một nguyên nhân nữa cũng gây nên sự tập trung cao của cầu du lịch vào thời vụ chính là do việc sử dụng thời gian nghỉ phép đại trà. Ví dụ như ở một số nước như Pháp, Thuỵ Sỹ hoạt động sản xuất chính thường được ngừng vào một số giai đoạn trong năm và các nhân viên thường phải sử dụng thời gian nghỉ phép vào những thời điểm đó. Ngoài ra, một số tầng lớp dân cư như giáo viên, sinh viên chỉ có thể đi du lịch vào kỳ nghỉ của các trường học (thường là vào các kỳ nghỉ hè, nghỉ đông) và nông dân thường chỉ đi nghỉ vào những tháng không bận rộn với công việc đồng áng.
Khía cạnh thứ hai của thời gian rỗi là thời gian nghỉ của các trường học. Thời gian nghỉ học trong năm tác động lên thời gian rỗi của học sinh, của cha mẹ chúng và qua đó đóng vai trò giới hạn trong việc lựa chọn thời gian đi du lịch của các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi từ 6 đến 15. Tác động của thời gian nghỉ của các trường học cũng phải được nghiên cứu trên hai mặt : Độ dài của thời gian nghỉ và sự phân bố của thời gian nghỉ trong năm. Thông thường ở các nước, nghỉ hè là kỳ nghỉ dài nhất của học sinh. Ớ một số nước có khí hậu lạnh thì ngoài kỳ nghỉ hè còn có kỳ nghỉ đông. Do vậy, đối với các nơi phát triển du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi tác động của nhân tố thời gian nghỉ của các trường học lên tính thời vụ du lịch biểu hiện khá rõ nét.
Khi nghiên cứu mức độ tác động của thời gian nghỉ của trường học gây lên sự tập trung nhu cầu du lịch vào thời vụ chính, các nhà nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn. Trên thực tế thì ở mỗi nước khác nhau thì có cơ cấu dân cư theo độ tuổi và hoàn cảnh gia định khác nhau. Do vậy, việc nghiên cứu đòi hỏi phải rất cụ thể cho từng quốc gia, đòi hỏi phải rất tỷ mỷ, tốn nhiều công sức và khó có thể tổng hợp thành xu hướng chung.
Phong tục, tập quán:
Qua điều tra xã hội học mới đây ở Hoa Kỳ và một số nước Tây Âu cho thấy: phong tục, tập quán là những nhân tố tác động
trực tiếp lèn cầu du lích và tạo lên sự tập trung của cầu du lịch vào những thời vụ nhất định.
Thông thường các phong tục, tập quán có tính chất lịch sử, bền vững. Cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có thể sẽ tạo thêm nhiều phong tục mới, nhưng khó có thể thay đổi được các phong tục cũ. Nhiều khi phong tục đã tạo nên thói quen cho con người (đi du lịch biển phải vào mùa hè). Ớ Việt Nam, tác động của nhân tố phong tục lên tính thời vụ du lịch thật là mạnh mẽ và rõ ràng. Theo phong tục thì những tháng đầu năm là những tháng hội hè, lễ bái. Vào khoảng thời gian tháng 2 tháng 3 âm lịch là hội của hầu hết các đình chùa, các đền và các vùng nổi tiếng bất kể đến thời tiết ẩm ướt và mưa dầm: Chùa Hưong, Chùa Thầy, Chùa Tây Phương, Đền Hùng, Hội Lim v.v…
Điều kiện về tài nguyên du lịch:
Điểu kiện về tài nguyên du lịch chỉ có thể phát triển thể loại du lịch nào sẽ gây ảnh hưởng đến thòi vụ du lịch của điểm du lịch tương ứng. Đây là nhân tố tác động manh lên cả cung và cầu du lịch.
Ví dụ: Nếu một điểm du lịch chỉ có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển thì thời vụ du lịch tại đó sẽ ngấn hơn một điểm du lịch khác có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển kết hợp với chữa bệnh hoặc một điểm du lịch khác có điều kiện phát triển du lịch văn hoá.
5.3.3. Nhân tô’ mang tính tổ chức – kỹ thuật:
Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch.
Chất lượng và cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là nhân tố ảnh hưởng đến độ dài của thời vụ du lịch.
Ví dụ: Cơ sở lưu trú chính thì thường có thời gian kinh doanh dài hơn cơ sở lưu trú phụ (Hotel ở biển có thời gian kinh doanh dài hơn Camping hay Bungalow). Khách sạn có hội trường lớn, có bể
bơi kín, có các trung tâm chữa bệnh, nơi vui chơi giải trí có thời vụ kinh doanh dài hơn.
5.3.4. Các nhân tô khác:
Nhân tố mang tính tâm lý (nhân tố về mốt và sự bắt chước).
Một số người muốn đi nghỉ ở một vùng, một đất nước du lịch nào đó mà họ không hề biết đến các điều kiện cụ thể về ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí. Khi đó họ chọn thời gian đi nghỉ theo các khách du lịch có kinh nghiệm hoặc những nhân vật nổi tiếng.
Ví dụ: Một người sống ở miền Nam muốn ra miền Bắc đi lễ hội chùa Hương lần đầu tiên. Người đó không hề biết phải đi như thế nào?, các điều kiện ăn uống, nghỉ ngơi, lễ hội ra sao? Và đi vào lúc nào là tốt nhất v.v… Người đó liền tìm ý kiến của những người xung quanh đã từng đi rồi, hợ khuyên là đi vào tháng 1 âm lịch là tốt nhất, thế là mặc dù lễ hội chính bắt đầu từ 15/2 âm lịch người khách đó đi lễ vào tháng 1 (có thể là xin đi theo đoàn của những người hay đi tổ chức).

• >>>>>Xem thêm: chụp ảnh đại gia đình
Một đôi nam nữ phải chọn cho mình một điểm đi du lịch vào tuần trăng mật. Họ có khả năng về tài chính, song không biết chọn nơi nào cho xứng đáng nhất. Thế là họ liền chọn bờ biển của Haiti, nơi mà thường các ngôi sao của giới điện ảnh và nghệ thuật hay đến nghỉ, làm điểm du lịch cho tuần trăng mật của mình.
Khi những trường hợp nêu trên là khá phổ biến thì có thể sẽ tạo sự căng thẳng nhân tạo của thời vụ tại một điểm thời gian nào đó.
Tuy nhiên nhân tố chủ yếu ảnh hưởng lên cường độ biểu hiện của thời vụ du lịch, ít ảnh hưởng lên độ dài của thời vụ. Mức độ ảnh hưởng là ít và bất biến.
Các nhân tố đặc biệt:
Một số khách sạn phục vụ chính là đối tượng khách công vụ thì thời vụ của các khách sạn này phụ thuộc lớn vào thời gian họp tổng kết của các doanh nghiệp.
5.2. Một số phương hướng và biện pháp làm giảm các tác động bất lợi của tính thời vụ du lịch
5.4.1. Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch:
Tính thời vụ trong du lịch ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các thành phần của quá trình du lịch – đến dân cư sở tại, đến chính quyền địa phương và nhất là đến khách du lịch và nhà kinh doanh du lịch.
Các tác động bất lợi đến dân cư sở tại:
Khi cầu du lịch tập trung quá lớn gây nên sự mất cân đối, mất ổn định đối với các phương tiện giao thông đại chúng, đối với mạng lưới phục vụ xã hội (giao thông công chính, điện, nước, mạng lưới thương nghiệp v.v…), làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân địa phương.
Khi cầu du lịch giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những người làm hợp đồng theo thời vụ sẽ không còn việc làm. Ngoài ra, ngay cả những nhân viên cố định ngoài thời vụ cũng có thu nhập thấp hơn.
Các tác động bất lợi đến chính quyền địa phương:
Khi cầu du lịch tập trung quá lớn sẽ gây ra không ít những sự mất thăng bằng cho việc bảo vệ trật tự an ninh và an toàn xã hội. Ớ mức độ nhất định, tính thời vụ gây ra những khó khăn cho việc quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch (ở cả cấp Trung ương và địa phương).
Khi cầu giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những khoản thu nhập từ thuế và lệ phí do du lịch đem lại cho du lịch cũng giảm.
Các tác dộng bất lợi đến khách du lịch:
Khi cầu du lịch tập trung lớn làm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp với thời gian tự chọn theo ý muốn. Ngoài ra, vào mùa du lịch chính thưòng xảy ra tình trạng tập trung nhiều khách du lịch trên phương tiện giao thông, trong các cơ sở lưu trú ở các nơi du lịch. Điều đó làm giảm tiện nghi khi đi lại, lưu trú của khách. Do vậy, dẫn đến việc giảm chất lượng phục vụ khách du lịch.
Các tác động bất lợi đến nhà kinh doanh du lịch:
Các bất lợi khi cầu du lịch tăng tới mức vượt quá khả năng cung cấp của các cơ sở kinh doanh du lịch nhiều lần (độ căng thẳng của độ tập trung cầu du lịch);
Đối với chất lượng phục vụ du lịch;
Đối với việc tổ chức và sử dụng nhân lực;
Đối với việc tổ chức các hoạt động cung ứng, các ngành kinh tế và dịch vụ có liên quan, dịch vụ công cộng;
Đối với việc tổ chức hạch toán;
Đối với tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật;
Các tác động bất lợi gây ra khi cầu du lịch giảm xuống và giảm xuống tới mức bằng không;
Tác động tới chất lượng phục vụ;
Tác động tới hiệu quả kinh tế trong kinh doanh;
Tác động tới việc tổ chức và sử dụng nhân lực;
Tác động tới việc tổ chức hạch toán;
Đối với tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật.

• >>>>>Xem thêm: chụp ảnh cưới cổ trang

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.