Tạp chí công nghệ Việt Nam

ĐIỂU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

4.1. Điều kiện chung
Để phân tích các điều kiện chung một cách cụ thể chúng ta có thể chia một cách tương đối các điều kiện chung để phát triển du lịch thành hai nhóm:
Nhóm các điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động đi du lịch.
Nhóm các điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh du lịch.
4.1.1. Nhóm thứ nhất: những điều kiện chung đôi với sự phát triển của hoạt động đi du lịch.
Nhóm này gồm các điều kiện: thời gian rỗi của nhân dân; mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao; điều kiện giao thông phát triển, không khí chính trị hoà bình và ổn định trên thế giới.
4.1.1.1. Thời gian rỗi của nhân dân:
Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian. Do vậy, thời gian rỗi ẹủa nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch. Thời gian rỗi của nhân dân ở từng nước được quy định trong Bộ luật Lao động hoặc theo hợp đồng lao động được ký kết.
Đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu quỹ thời gian của con người và phân chia quỹ thời gian theo các cách khác nhau, theo các phần khác nhau.
Trước đây một sỏ nhà khoa học, trong đó có nhà kinh tế Xô Viết Xtrumilin từ năm 1922 đã phân chia quỹ thời gian trong ngày (24h) làm 3 phần: Lao động, nghỉ ngơi, ngủ.
Việc phân chia thời gian như vậy, chưa cho phép việc thực hiện phân loại cụ thể hơn về thời gian để thấy hết điều kiện sống của con người hiện đại trong lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Hiện nay trong các ấn phẩm kinh tế, quỹ thời gian trong năm được chia làm 2 phần: Thời gian làm việc và thời gian ngoài giờ làm việc.
Hiện nay trên thế giới mức thời gian lao động tối đa trong ngày ít khi vượt quá 8 tiếng (chỉ còn một số rất ít các nước có thời gian làm việc trong ngày quá 8 tiếng). Điều này có nghĩa là thời gian ngoài giờ làm việc (16 tiếng) chiếm phần lớn hơn trong quỹ thời gian một ngày. Thời gian một năm gồm 8760 giờ (làm tròn là 9000h).
Năm 1850 quỹ thời gian đó được chia như sau: 5000h làm việc, 4000h ngoài giờ làm việc (3000h để ngủ và lOOOh cho các nhu cầu khác và thời gian rỗi). ,
Năm 1950 quỹ thời gian đó được chia theo tỷ lệ 3000 – 3000 – 3000.

• >>>>>Xem thêm: Các lĩnh vực mà bạn có thể kinh doanh trong du lịch

Nhờ có các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại, ngày nay nãng suất lao động ngày càng cao, kinh tế ngày một phát triển và mức sống của con người ngày một cải thiện. Xu hướng chung bây giờ làm giảm bớt thời gian làm việc và tăng số thời gian rỗi. Đã có nhiều nước trên thế giới chuyển chế độ làm việc sang còn 5 ngày một tuần. Như vậy, thời gian ngoài giờ làm việc càng chiếm ưu thế trong quỹ thời gian và đang trở thành vấn đề quan trọng đặc biệt của xã hội. Chính vì lẽ đó, nhiều chuyên gia về kinh tế lao động đã cố gắng để đưa ra được một phân chia đúng nhất cho quỹ thời gian ngoài giờ làm việc. Sự phân chia đó như sau:
Thời gian tiêu hao liên quan tới thời gian làm việc, hay nói cách khác đó là thời gian gắn với sản xuất nhưng không nằm trong thời gian làm việc quy định. Đây là thời gian cho việc đi đến nơi làm việc và ngược lại, thời gian dành cho việc chuẩn bị cá nhân, trước và sau khi làm việc.
Thời gian làm công việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngàv như mua hàng, dọn dẹp nhà cửa, giặt là quần áo, chăm sóc con cái, nấu hướng v.v…
Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngu. ăn, v.v…
Thời gian lỗi
Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của môn khoa học về tổ chức du lịch. Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số lượng thời gian rỗi của con người. Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian đó vào mục đích gì và sử dụng như thế nào. Thông thường thời gian rỗi thường được sử dụng vào các hoạt động như sau:
Thời gian tham gia vào các hoạt động xã hội.
Đây là những hoạt động cần thiết, nhờ đó mà con người điền chỉnh tốt được các quá trình giao tiếp xã hội và kinh tế có tổ chức và nhờ đó mà có thể tiết kiệm được thời gian làrrỉ việc.
Thời gian dành cho việc tự học nâng cao hiểu biết và hoạt động sáng tạo. Đây là thời gian dành cho việc nghiên cứu tri thức – giáo dục, chính trị, củng cố kiến thức, tự học, đọc sách thư viện, đọc sách báo, theo dự các lớp học, tham gia tranh luận v.v…
Thời gian để nghỉ ngơi tinh thần một cách tích cực.
Đây là thời gian xem triển lãm, xem phim, kịch, hoà nhạc, xem bảo tàng, xem thể thao, đọc các tác phẩm văn hoá, ca hát, chơi nhạc cụ, nghe đài, xem vô tuyến v.v…
Thời gian dành cho việc phát triển thể lực hồi phục và củng cố sức khoẻ như chơi thể thao, đi du lịch, đi dạo v.v…
Thời gian vui cùng gia đình, bè bạn, người quen…
Thông thường đó là thời gian dành cho việc vui chơi với con cái, đến chơi nhà bè bạn, họ hàng v.v…
Thời gian nghỉ ngơi thụ động.
Đây là thời gian nhàn rỗi để nằm, ngồi… mà không làm gì cả.
Thời gian làm những việc vô ích, thậm chí còn có hại hay còn gọi là thời gian rỗi vô ích. Một số người sử dụng thời gian rỗi của họ vào việc nhậu nhẹt (uống rượu, bia…) hoặc đánh bài, hoặc lười biếng để mặc thời gian trôi. Đây là cách sử dụng thời gian vô bổ và có hại.
Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người sử dụng hợp lý quỹ thời gian và có chế độ lao động đúng đắn. Với chế độ làm việc 5 ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và đó là điều kiện thực tế để tổ chức hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao động. Thời gian rỗi còn tăng được bằng cách giảm thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc. Ví dụ: Có thể giảm thời gian mua hàng, thời gian làm việc gia đình v.v…
Tóm lại, để có thể tăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm việc hợp lý. Điều này có thể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở rộng, mạng lưới phục vụ công cộng, giao thông, y tế, hành chính v.v… được tổ chức và quản lý tốt.
Thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thể thao và nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi. Do vậy, du lịch muốn phát triển tốt phải nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi. Việc áp dụng phương pháp hệ thống tìm ra phương hướng phát triển và phục vụ thích hợp cho thể thao, du lịch và nghỉ ngơi.
Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán, số ngày làm việc bình quân một năm sẽ không vượt quá 200. Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngày nghỉ phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm nhiều khách đến các cơ sở của mình. Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý. Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động. Các cơ sớ ấy đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân.

 

• >>>>>Xem thêm: thiết kế logo giá rẻ

4.1.1.2. Mức sống về vật chất và trình độ vãn hoá chung của người dân cao:
Mức sống về vật chất cao
Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch khòng phải chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền mới cổ thể thực hiện được mong muốn đó. Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ, hàng hoá. Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản tiền cho các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm cho các khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan v.v… và xu hướng của con người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn. Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Người ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi vể cơ cấu của tiêu dùng du lịch. Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó. Vì nguyên nhân đó, những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một mặt, có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước, và mặt khác, có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài. Trên thực tế có nhiều nước giàu tài nguyên du lịch, nhưng vì kinh tế lạc hậu, chậm phát triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều khách du lịch ra nước ngoài được.
Những nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập đầu người cao như Mỹ, Canada, Pháp, Thuỵ Sỹ, Anh, Ý. Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển, Bỉ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên cũng là những nước có vị trí quan trọng trong phát triển du lịch thế giới. Tuy nhiên, trong số các nước đó, một số nước có xu hướng thiên hơn về phát triển du lịch quốc tế chủ động, một số nước thiên hơn về phát triển du lịch thu động hay du lịch nội địa. Điều đó phụ thuộc vào mức độ giàu có của tài nguyên du lịch.
Trình độ vãn hoá chung của nhân dân cao.
Trình độ văn hoá chung của một dân tộc được đánh giá chính theo các điểm sau:
Hệ thống và chất lượna của giáo dục, đào tạo (hệ thống đó phải đáp ứng với quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội – sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra của cải phi vật chất. Chất lượng giáo dục đào tạo phải đảm bảo những kiến thức cần thiết phục vụ cho công việc sau này cho những nguyên gia trẻ: Vừa giỏi lý thuyết, vừa tạo thực hành).
Xuất bản nhiều sách, báo đạt trình độ văn hoá, chính trị, khoa học, nghệ thuật cao. Các phưong tiện thông tin đại chúng phát triển.
Các hoạt động phim ảnh, ca hát, nhạc, kịch phong phú.
Nếu trình độ văn hoá chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài long khách đi du lịch đến đó.
Theo Robert w. Mcỉntoslì thì giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ lệ đi dư lịch, của họ có mối quan hệ nlìđt định. Có thể thấy mối quan hệ đó qua số liệu ở bảng 4.1.
Bảng 4.1. Trình độ văn hoá của người chủ gia đình và tỷ lệ đi
du lịch (Theo Robert w.McIntosh 1995)
Trình độ vãn hoá của người chủ gia đình ‘ Tỷ lệ đi du lịch
Chưa có trình độ trung học 50%
Có trình độ trung học 65%
Có trình đô cao đẳng 75%
Có trình độ đại học 85%.
4.1.1.3. Điều kiện giao thông vận tải phát triển Từ xưa, giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch. Ngày nay, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố

chính cho sự phát triển của cỉu lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Trong những năm aần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du lịch phát triển ca về số lượng và chất lượng.
Phát triển về số lượng: Thực chất đó là việc tăng chủng loại và số lượng các phương tiện vận chuvển. Sự phát triển về lượng của các phương tiện vận chuyên đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trên trái đất. Hiện nav trên thế giới có trên 300 triệu khách du lịch di qua biên giới các nước bằng các phương tiên vận chuyển hành khách quốc tế.
Phát triển về chất lượng của các phương tiện vận tải theo các hướng:
Tốc độ vận chuyển: Việc tâng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịch đến những nơi xa xôi.
Đảm bảo an toàn trong vận chuvển: Ngày nay, sự tiến bộ của kỹ thuật đã làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách.
í
Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển ngàv càng có đủ tiện nghi và làm vừa lòng hành khách. Trong tương lai xu hướng này sẽ rigàv càng phát triển.
Vận chuyển với giá rẻ: Giá cước vận tải có xu hướng giảm để nhiều tầng lớp nhân dân có thể sử dụng được phương tiện vận chuyển.
Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch. Sự phối hợp đó có 2 mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế. cả hai mức độ đểu có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo ra điều kiện thuận lợi khi phải đổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch.

• >>>>>Xem thêm:quay phim cưới hỏi

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.