Tạp chí công nghệ Việt Nam

Đồng bộ hệ thống du lịch đòn bẩy phát triển

Đặc điểm này xuất phát từ tính tổng hợp của nhu cầu du lịch bao gồm cả nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung. Khách du lịch luôn đòi hỏi phải được thoả mãn đồng thời tất cả những nhu cầu đó. Do vậy cũng cần có sự đồng bộ các yếu tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch.
Tính đồng bộ của hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch được hiểu theo ba khía cạnh:
Một là: Sự đầy đủ các thành phần theo quy định của một hệ thống. Chẳng hạn một khu du lịch phải được xây dựng đồng bộ bao gồm thu lưu trú, ăn uống, dịch vụ giải trí, bãi đỗ xe, các dịch vụ khác. Một khách sạn thì cần phải đầy đủ các yếu tố tiện nghi về buồng ngủ, các khu vực dịch vụ nhằm thoả mãn tối đa các nhu cầu của du khách trong thời gian lưu trú. Điều đáng nói là các hạng mục công trình nên được tiến hành xây dựng’đồng thời. Trong du lịch, cần phải hạn chế tối đa việc đầu tư xây dựng nhiều lần, nhiều giai đoạn. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách của cả hộ thống.

• >>>>>Xem thêm: Đào tạo bồi dưỡng nhân lực cho du lịch

Hai là: Sự hài hoà cân đối giữa các khu vực trong một tổng thể theo một yếu tố trung tàm. Ví dụ sự hài hoà về quy mô giữa khu vực buồng ngủ với khu vực nhà hàng trong một khách sạn. Sự cân đối giữa các khu vực chính như các toà nhà của khách sạn với các công trình bổ trợ.
Ba là: Sự đồng bộ còn được hiểu về mặt kỹ thuật thiết kế và xây dựng. Chẳng hạn diện tích của hành lang, cầu thang theo mỗi
cách bố cục cụ thể của tổng thể. Điều nàv cũng thường gắn với các tiêu chuẩn tối thiểu về không gian.
Do vậy khi xây dựng hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch phải chú ý đến việc thiết kế tổng thể nhằm tạo ra sự đồng bộ giữa các thành phần, đảm bảo sự phù hợp, cân đối cả về mặt lượng và mặt chất. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến thực tế nhu cầu về việc sử dụng các dịch vụ để đảm bảo về hiệu quả kinh doanh của mỗi dịch vụ được cung cấp cũng như của tổng thể.
7.3.2. Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch có giá trị một đơn vị công suất sử dụng cao.
Giá trị một đơn vị cóng suất sử dụng được xác định là tổng vốn đầu tư chia cho công suất thiết kế. Ví dụ với một khách sạn thì giá trị một đơn vị công suất sử dụng thường được tính là tổng giá trị đầu tư chia cho số lượng phòng khách sạn có theo thiết kế.
Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới thì việc đầu tư cho lĩnh vực kinh doanh du lịch mà trực tiếp là khách sạn có số vốn đầu tư không thua kém lĩnh vực công nghiệp. Giá trị đơn vị công suất được xác định với khách sạn loại 3 sao là từ’60 đến 90 ngàn USD, loại 4 sao là 90 đến 120 ngàn USD và loại 5 sao là từ 120 đến 150 ngàn USD.
Sở dĩ giá trị một đơn vị công suất sử dụng của khách sạn cao như vậy là do các nguyên nhân sau đây:
Một là: Nhu cầu du lịch là nhu cầu tổng hợp, đa dạng. Khi đi du lịch, khách du lịch luôn đòi hỏi ở mức độ cao về điều kiện sính hoạt, nghỉ ngơi. Các yêu cầu đó đòi hỏi phải có các trang thiết bị tiện nghi đầy đủ, sang trọng và chất lượng. Điều này đòi hỏi phải đầu tư một lượng chi phí không nhỏ mới có được.

• >>>>>Xem thêm: Các bước xây dựng chiến lược marketing online bạn nên biết

Hai là: Khách du lịch cũng thường đòi hỏi cao về cảnh quan môi trường. Do vậy trong kinh doanh du lịch không chỉ phải đầu tư về các trang thiết bị tiện nghi như là những thành phần chính vốn đã có chi phí cao mà còn đầu tư cho việc tạo khung cảnh, cảnh quan môi trường. Chẳng hạn hệ thống giao thông nội bộ các khuôn viên, đài phun nước… Trong các khách sạn, khu vực này chiếm tỷ lệ 60 phần trăm tổng diện tích, các chi phí này cũng chiếm một phần không nhỏ.
Ba là: Tính đồng bộ chất lượng cao trong xây dựng và sử dụng cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến giá trị một đơn vị công suất sử dụng cao.
Bốn là: Trong du lịch, do đặc trưng của tính thời vụ, có điểm du lịch, hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật ở đó chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn chừng vài tháng như du lịch biển, thậm chí vài ngày như du lịch cuối tuần. Do vậy chi phí đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật tính-cho đơn vị công suất sử dụng thực tế lại càng cao. Chi phí này một mật do phải tính cho khoảng thời gian không sử dụng, một mặt cho việc duy tu, bảo dưỡng. 

• >>>>>Xem thêm: Am hiểu tâm lý khách hàng – điều cần thiết của người làm quảng cáo

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.