Tạp chí công nghệ Việt Nam

TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH

5.1. Khái niệm “Tính thời vụ trong du lịch”, “Thời vụ du
lịch”
Du lịch là ngành kinh doanh dịch vụ là chủ yếu (hoạt động kinh doanh ở đây chủ yếu là phục vụ chứ không phải là sản xuất). Do tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà hoạt động du lịch mang tính thời vụ. Tính thời vụ đó đã gây những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh du lịch. Nghiên cứu tính thời vụ của du lịch luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của các nhà khoa học và các nhà kinh doanh thuộc lĩnh vực này.
Từ sau Đại chiến thế giới thứ hai cho đến cuối những năm 60 của thế kỷ trước, việc nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch tập trung chủ yếu vào nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của thời vụ du lịch và những nhân tố quyết định độ dài của thời vụ du lịch. Các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu vấn đề này là GS.TS. V.Hunziker, J.Planina, N.Falkovich v.v… Lẽ đương nhiên, do đối tượng nghiên cứu đã được xác định như vậy, khi đó các nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu du lịch tự đặt cho mình nhiệm vụ làm giảm bớt những tác động có hại của một vài nhân tố và tăng cường các biện pháp hạn chế những dao động thời vụ trong hoạt động kinh doanh của các trung tâm du lịch. Cũng vào thời gian đó, một uỷ ban chuyên trách về vấn đề kinh doanh khách sạn thời vụ của Hiệp hội quốc tế các nhà kinh doanh khách sạn ra đời và đi vào hoạt động. Tại Pháp cũng có Liên hiệp quốc gia các nhà kinh doanh khách sạn thời vụ. Tại Hội nghị quốc tế ở Rôrría (Ý) năm 1963 về các vấn đề du lịch do Liên hợp quốc chủ trì cũng có đưa ra hội thảo một số vấn đề về thời vụ trong du lịch.
Thời gian gần đây, tuy vẫn quan tâm đến khía cạnh lý thuyết của vấn đề này, song các tổ chức quốc gia và quốc tế về du lịch tập trung nhiều hơn vào việc soạn thảo, thực nghiệm và ứng dụng những kế hoạch tổng hợp nhằm hạn chế những tác động bất lợi của tính thời vụ trong du lịch, kéo dài đáng kể thời vụ trong du lịch. Đối với một số nước, một số vùng hay một số trung tâm du lịch nhất định đó là một trong những bí quyết có tính quyết định đến hiệu quả kinh tế trong kinh doanh du lịch.
Theo sáng kiến của Hiệp hội quốc tế của các nhà kinh doanh khách sạn (Association Intemationnale de L’hotellrie – AIH) các nước trong Uỷ ban châu Âu về du lịch đã xây dựng và đưa vào thực nghiệm thành công 3 dự án về kéo dài thời vụ du lịch tại 3 nước (3 hòn đảo) của vùng Địa Trung Hải là Malta, Rodos và Síp (năm 1982).
Cho đến nay, nhiều tác giả có chung quan điểm về tính thời vụ du lịch như sau: tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi, lặp lại đối với cung và cầu của các dịch vụ và hàng hoá du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định. Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch.
Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng: việc xác định thời vụ của từng loại hình du lịch – du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển, du lịch chữa bệnh và du lịch hội thảo v.v… được thực hiện dễ hem, bởi các dao động ở mỗi một loại hình du lịch thường chỉ diễn ra một lần trong năm. ,
Trên thực tế, tính thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất nước nào đó là tập hợp và sự tác động tương hỗ giữa các dao động theo mùa của cung và cầu của các loại hình du lịch được kinh doanh tại đó.
Sự chênh lệch về thời gian giữa các thể loại du lịch và cường độ biểu hiện của từng thể loại du lịch, chính là nguyên nhân tạo ra đường cong thể hiện các dao động thời vụ của toàn bộ hoạt động du lịch.

• >>>>>Xem thêm: “ĐIỂU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Bức tranh về tính thời vụ trong kinh doanh du lịch quốc tế chủ động của Việt Nam, được thể hiện qua bảng tính chỉ số của thời vụ đối với tổng số ngày khách của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam trên toàn lãnh thổ và tại một số trung tâm du lịch chính.
Có thể minh họa về tính thời vụ của du lịch bằng số liệu sau: chỉ số của tính thời vụ đối với tổng số ngày khách của khách du lịch quốc tế tại các cơ sở lun trú chính của Việt Nam và một số trung tâm du lịch chính năm 2000 ( xem bảng 5.1).
Bảng 5.1. Chỉ số ngày khách tính cho từng tháng
Tháng Việt
Nam Hà
Nội Hải
Phòng Quảng
Ninh Huê Nha
Trang Vũng
Tàu TP
HCM
Tháng I 232.5 253.4 134.1 110.6 279.8 110.4 110.3 249.3
Tháng 2 238.8 247.1 137.1 119.1 274.7 118.2 121.9 306.4
Tháng 3 206.2 229.6 134.1 103.4 232.8 164.7 99.6 237.2
Tháng 4 70.4 62.9 109.9 61.2 60.1 115.0 72.0 43.4
Tháng 5 24.4 8.7 73.5 28.5 4.8 75.2 54.3 2.0
Tháng 6 22.6 6.4 74.6 114.8 2.3 62.2 88.3 1.5
Tháng 7 21.5 6.2 61.1 169.5 1.5 61.7 142.4 0.5
Tháng 8 21.8 9.2 78.0 160.8 1.1 74.9 139.7 0.8
Tháng 9 31.9 12.9 88,7 148.0 3.3 90.4 136.7 1.0
Tháng 10 21.8 20.3 76.4 61.6 5.6 89.9 70.0 0.6
Tháng 11 92.9 105.3 104.1 29.0 91.7 117.3 66.6 64.1
Tháng 12 202.9 211.0 128.2 93.4 241.3 120.0 95.9 245.8

( Nguồn: theo điều tra và tính toán của các tác giả biên soạn giáo trình)

Các số liệu ở bảng chỉ cho chúng ta thấy rằng, chỉ số của thời vụ lớn nhất vào tháng 2 tại các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Huế, vào tháng 7 tại Quảng Ninh, Vũng Tàu.
Đó là tình hình thực tế kinh doanh du lịch quốc tế chủ động của Việt Nam trong những năm gần đây.
Thời gian của mùa du lịch chính là đại lượng thay đổi, chứ không phải là bất biến. Nó phụ thuộc vào tính chất và xu hướng phát triển của hoạt động du lịch. Có thể ví dụ và phân tích tình hình phát triển của tính thời vụ du lịch tại Châu Âu. Vào thời kỳ cách đây 200 năm đối với giới quý tộc Châu Âu mùa đông kéo dài ở Riviera là thời gian để giải trí, còn mùa hè ngắn ngủi là mùa chữa bệnh. Sau đó với sự quần chúng hoá trong du lịch thì các trung tâm nghỉ núi mùa hè cũng phát triển mạnh và mùa du lịch chính chuyển sang mùa hè. Muộn hơn (sau năm 1910) mùa hè ở Địa Trung Hải đã hình thành và củng cố thành mùa du lịch chính. Địa Trung Hải đã nhanh chóng trở thành cái đích chính cho luồng khách du lịch và cũng là nơi đại diện lớn nhất cho sự phát triển của du lịch mùa hè. Muộn hơn nữa môn du lịch thể thao mùa đông phát triển và cùng với mùa hè, mùa đông lại được phục hồi thành mùa du lịch, nhưng địa điểm du lịch đã chuyển đến vùng núi.
Sự bành trướng của du lịch từ sau Chiến tranh Thế giới II chẳng những không hạn chế bớt, mà ngược lại còn làm tăng thêm cường độ của thời vụ. Số khách du lịch các tầng lớp giữa trong nhân dân tăng lên rõ rệt và họ tập trung đến những khu nghỉ biển ở miền Nam Châu Âu (thuộc địa phận của ý, Tây Ban Nha, Pháp). Nhiều thể loại du lịch mới được hình thành như du lịch hội nghị, du lịch tìm hiểu theo tuyến v.v… Những thể loại đó chủ yếu hoạt động vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng số người tham gia vào các thể loại du lịch đó lại rất ít so với số người thích nghỉ biển. Do vậy, tính thời vụ của hoạt động du lịch không thay đổi được nhiều.
Một ví dụ khác: Ở Vịnh Hạ Long những năm trước đây người ta đi du lịch Hạ Long chủ yếu là tắm biển vào mùa hè, nhưng hiện nay không chỉ tắm biển mùa hè mà người ta đến Hạ Long quanh năm để du thuyền trên vịnh, tham quan hang động…
5.2. Các đặc điểm của thời vụ du lịch:
Như trên đã nêu, thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải là cố định, mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều nhân tố (chúng ta sẽ xét trong phần 5.3). Dưới sự tác động của những nhân tố khác nhau thời vụ du lịch có nhiều đặc điểm riêng. Những đặc điểm quan trọng nhất là:
5.2.1. Tính thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch.
Về mặt lý thuyết, nếu một vùng du lịch kinh doanh nhiều thể loại du lịch và đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong các tháng của năm (luôn giữ được lượủg khách và doanh thu nhất định) thì tại vùng đó tính thời vụ là không tồn tại. Tuy nhiên, khả năng đó là rất khó thực hiện vì có rất nhiều yếu tố tầc độr.g lên hoạt động kinh doanh du lịch, làm cho hoạt động đó khó có thể đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong năm và vì vậy tồn tại tính thời vụ trong du lịch.
5.2.2. Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch, tuỳ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó.
Một nước hay một vùng chỉ phát triển một loại hình du lịch là chủ yếu như nghỉ biển hay nghỉ núi thì ở đó chỉ có một mùa du lịch là vào mùa hè hoặc mùa đông.
Chẳng hạn như các vùng biển Đồ Sơn, Sầm Sơn, Vũng Tàu của Việt Nam chỉ kinh doanh (và phát triển) loại hình du lịch nghỉ biển là chủ yếu thì mùa du lịch sẽ là vào mùa hè.
Nhưng nếu như tại một khu nghỉ mát biển lại có nhiều nguồn nước khoáng giá trị, ở đó phát triển mạnh 2 thể loại du lịch: du lịch nghỉ biển vào mùa hè và du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh vào mùa đông dẫn đến ở đó có 2 mùa du lịch.
Tại một số vùng núi ở Châu Âu (tại Áo, Pháp) phát triển hai mùa du lịch chính là mùa đông trượt tuyết, mùa hè leo núi nghỉ dưỡng và chữa bệnh.
5.2.3. Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với các thể loại du lịch khác nhau.
Du lịch chữa bệnh thường có mùa dài hơn và cường độ vào mùa chính yếu hơn. Du lịch nghỉ biển (vào mùa hè), nghỉ núi (trượt tuyết vào mùa đông) có mùa ngắn hơn và cường độ mạnh hơn (do phụ thuộc vào yếu tố thiên nhiên nhiều hơn.
5.2.4. Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo thời gian của chu kỳ kinh doanh.
Thời gian mà ở đó cường độ lớn nhất được quy định là thời vụ chính (mùa chính), còn thời kỳ có cường độ nhỏ hơn ngay trước mùa chính gọi là thời vụ trước mùa, ngay sau mùa chính gọi là thời vụ sau mùa. Thời gian còn lại trong năm được gọi là ngoài mùa. 0 một số nước chỉ kinh doanh du lịch nghỉ biển là chủ yếu thời gian ngoài mùa người ta gọi là “mùa chết”.
Thí dụ: Tại bãi biển Sầm Sơn vào tháng 6, 7, 8 là thời gian tắm biển đẹp nhất, nhiều người đi tắm nhất (và cũng vì là vào kỳ nghỉ hè). Vào thời gian đó số khách đông nhất, cường độ thời vụ là lớn nhất hoặc gọi là mùa chính.
Vào tháng 4, tháng 5, tháng 9, tháng 10 nước biển cũng tương đối ấm, có thể tắm biển được vẩn còn có khách đến tắm biển, nghỉ ngơi hoặc trước mùa và sau mùa.
Còn lại các tháng 11, 12, 1, 2, 3 là những tháng ngoài mùa (mùa chết).
5.2.5. Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ phát triển và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lịch, điểm du lịch và các nhà kinh doanh du lịch.
Cùng kinh doanh một loại hình du lịch, với các điều kiện về tài nguyên du lịch tương đối như nhau thì ở các nước, các vùng, các cơ sở kinh doanh du lịch phát triển hơn, có kinh nghiệm kinh doanh tốt hơn thì thời vụ du lịch thường kéo dài hơn và cường độ của mùa du lịch yếu hơn. Ngược lại, các nước, vùng, cơ sở du lịch mới phát triển, chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh (chính sách tiếp thị, quảng cáo chưa tốt) thường có mùa du lịch ngắn hơn và cường độ của mùa du lịch chính thể hiện mạnh hơn.
5.2.6. Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào
cơ cấu của khách đến vùng du lịch. ‘

• >>>>>Xem thêm: thiết kế logo uy tín
Các trung tâm dành cho du lịch thanh, thiếu niên (sinh viên, học sinh) thường có mùa ngắn hơn và có cường độ mạnh hơn so với những trung tâm đón khách ở độ tuổi trung niên. Nguyên nhân chính ở đây là do thanh, thiếu niên thường hay đi theo đoàn, hội và vào các dịp nghỉ hè, nghỉ tết ngắn hạn.
5.2.7. Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào số lượng các cơ sở lưu trú chính.
0 đâu (đất nước, vùng) có chủ yếu là các cơ sở lưu trú chính – khách sạn, hotel, nhà nghỉ, khu điều dưỡng, mùa du lịch kéo dài hơn và cường dộ của mùa chính là yếu hơn so với nơi sử dụng nhiều nhà trọ và camping. Ớ đó mùa du lịch thường ngắn hơn và cường độ thường mạnh hơn.
Đặc điểm này ỉà hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau như:
Những nơi có chủ vếu là các cơ sở lưu trú chính thì việc đầu tư và bảo dưỡng tốn kém hơn, dẫn đến các nhà kinh doanh phải tìm nhiều biện pháp kéo dài thời vụ hơn.
Những nơi có thời vụ du lịch ngắn thì nhu cầu đầu tư và xây dựng các cơ sở liru trú chính ít hơn. Cơ sở lưu trú là nhà trọ và Camping vừa linh hoạt lại vừa tốn ít chi phí hơn.
Một vài đặc điểm về tính thời vụ du lịch của Việt Nam
Việt Nam là một là nước có tài nguyền du lịch thuận lợi chơ việc phát triển kinh doanh du lịch quanh năm.
Sự đa dạng về khí hậu: Nươc Việt Nam hình chữ s trải theo chiều Bắc – Nam do vậy, chỉ có ở miền Bắc và Trung còn có mùa đông, ở miền Nam khí hậu quanh năm nóng ấm, bờ biển dài thuận lợi cho kinh doanh du lịch nghỉ biển cả năm.
Sự phong phú về tài nguyên nhân văn ở khắp mọi miền đất nước, do đó tính thời vụ có thể được hạn chế’và có điều kiện giảm cường độ của thời vụ du lịch.
Trong giai đoạn hiện nay đối tượng khách du lịch Việt Nam có động cơ và mục đích rất khác nhau:
Khách du lịch nội địa đi du lịch chủ yếu là để nghỉ biển, nghỉ dưỡng, lễ hội, tham quan hoặc họ đi du lịch chủ yếu vào các tháng hè và các tháng đầu năm.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hiện nay chủ yếuvới mục đích kết hợp kinh doanh (thăm dò thị trường, ký kết hợp đồng), sau đó với mục đích tham quan, tìm hiểu (động cơ xã hội) và họ đến Việt Nam chủ yếu vào từ tháng 10 đến tháng 3.

Luồng khách du lịch nội địa lớn hơn luồng khách du lịch quốc tế rất nhiều.
Do vậy, ở tầm vĩ mô nếu xét riêng kinh doanh du lịch quốc tế chủ động thì thời vụ du lịch chính là vào giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 3, còn nếu xét hoạt động kinh doanh du lịch nói chung thì nước ta theo nguyên tắc là có 2 mùa du lịch chính (vào các tháng mùa hè và vào các tháng đầu năm).
Thời vụ du lịch, độ dài của thời vụ du lịch và cường độ biểu hiện của thời vụ du lịch ở các thành phố lớn, các tỉnh và các trung tâm du lịch biển là rất khác.
Điều đó phụ thuộc vào sự phát triển các loại hình kinh doanh du lịch khác và cấu trúc, đặc điểm của các luồng khách du lịch.
Xuất phát từ chỗ Việt Nam trong giai đoạn phát triển du lịch hiện nay thu hút khách du lịch quốc tế chủ yếu bởi các giá trị lịch sử (các di tích lịch sử); các giá trị văn hoá (các phong tục tập quán cổ truyền, các lễ hội); các dự án đầu tư, các hoạt động kinh doanh sản xuất, dịch vụ khách du lịch quốc tế đến yiệt Nam (và tổng số ngày khách của khách du lịch quốc tế), tập trung chính vào khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 trong năm bởi các nguyên nhân sau:
Phần lớn các dịp lễ hội, tết nguyên đán tập trung vào những tháng đầu năm. Trong giai đoạn hiện nay hầu hết khách Việt Kiều (chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số khách du lịch quốc tế vào Việt Nam) và khách du lịch với mục đích tham quan, tìm hiểu thường đến dịp này.
Các thương gia đến Việt Nam thường đến nhiều vào thời gian ngoài kỳ nghỉ hè, vì thời gian nghỉ hè họ thường cùng với vợ con và những người thân của họ đi nghỉ ở những nơi nổi tiếng, truyền
thống hấp dẫn cho các kỳ nghỉ hè gia đình của khách du lịch quốc tế trên thế giới. Ví dụ khách du lịch Pháp thường tránh đến Việt Nam vào khoảng tháng 7, 8, 9 vì họ sợ gió mùa, bão của những tháng đó.

• >>>>>Xem thêm: quay phim chụp ảnh cưới hỏi

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.